photoshop-heroes

10 Cái Tên Vĩ Đại Đằng Sau Photoshop Mà Bạn Nên Biết Đến

Ngày nay, đi tìm một trang web chuyên nghiệp hay những bức ảnh chưa qua xử lý bằng Photoshop là điều không dễ. Thực chất, hầu như mọi sản phẩm hay thiết kế hiện đại đều có sự trợ giúp của Photoshop. Phần mềm này vẫn đang tiếp tục phát triển và vẫn chưa có dấu hiệu chậm lại trong hơn suốt 20 năm qua.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn chỉ biết rất ít về những con người đang làm việc đằng sau Photoshop – những developer chủ chốt, những cái tên đã chễm chệ trên loadscreen Photoshop mà chúng ta thấy mỗi khi chạy chương trình. Và bây giờ, với sự tò mò và lòng biết ơn, tôi vinh hạnh được giở ra những câu chuyện ngắn của 10 vị anh hùng chưa bao giờ được chúng ta ngó ngàng, người đã mài dũa Photoshop để chúng ta có thể kiếm ra tiền (hoặc chí ít là làm đẹp bản thân) nhờ nó.

Đã đến lúc chúng ta bày tỏ sự tôn trọng và biết ơn họ.

1. Thomas Knoll

Photoshop, một phần mềm “khủng” đã định hình thế giới hình ảnh kĩ thuật số hiện đại, được bắt đầu từ một nhân vật, Thomas Knoll. Ông đến với Photoshop như một sở thích viết code nhằm tạo ra những bức ảnh grayscale, và thành công ban đầu đã dẫn ông ấy đến việc viết ra nhiều đoạn code chỉnh sửa ảnh số hơn, để cuối cùng từ đó trở thành những điểm đặc trưng cơ bản nhất của Photoshop huyền thoại.

thomas-knoll

Ngoài ra, ông còn là một con người rất khiêm tốn. Ông đã trả lời phòng phấn khi được bổ nhiệm bởi NAPP ( National Association of Photoshop Professionals – Hiệp hội Photoshop chuyên nghiệp quốc gia) rằng “Tại sao các anh lại muốn bổ nhiệm tôi? Tôi đã làm được gì đâu. Viết ra Photoshop chỉ là thứ mà tụi tôi làm cho vui hồi đấy thôi mà.” Và thái độ đó chính là tinh thần làm việc của đội ngũ Photoshop, với cả nhóm, bí quyết để đưa ra 1 sản phẩm hoàn hảo chính là sự ăn ý tuyệt vời giữa đội ngũ.”
Thomas vẫn còn đang hoạt động cùng với đội ngũ Photoshop cho đến giờ, rất hiếm những co founder có thể làm được điều đó. Ông đã dẫn dắt đội cho đến dự án CS4 và dự án mới nhất của ông ấy (tính đến thời điểm của bài viết này) làAdobe Camera Raw giúp cho việc xử lý format bức ảnh từ máy chụp ảnh kĩ thuật số. Quả thật rằng niềm đam mê đối với Photoshop và ảnh kĩ thuật số của Thomas là không gì có thể sánh được.

2. John Knoll

Mặc dù không xuất hiện nhiều trên loadscreen của Photoshop (trừ phiên bản 1.0.7 và 2.0.1), John Knoll vẫn là đồng sáng lập của Photoshop. Thực tế, ông ấy chính là người đã thuyết phục Thomas Knoll chuyển hướng sang thương mại hóa phần mềm chỉnh sửa ảnh Photoshop.

john-knoll

Vào thời điểm đó, John Knoll đã khá bất ngờ với chương trình xử lý ảnh của Thomas mà người ta thường tính $300/giờ cho việc “tút” lại ảnh cơ bản và ông đã thấy được tương lai của việc sửa ảnh nhưng với giá cả dễ chịu hơn nhiều. Ông bắt đầu thôi thúc Thomas phát triển thêm nhiều đặc điểm trong khi ông ấy đang cố gắng để được lấy bằng tiến sĩ.
Trong thời gian làm việc với Industrial Light and Magic, công ty phát triển kỹ xảo cho công ty điện ảnh của George Lucas, John cũng tạo ra một số hiệu ứng xử lý ảnh, mà sau này phát triển thành Filters ngày nay.

3. Russell Preston Brown

Cũng như anh em nhà Knoll, Russell là một trong những người tiên phong của Photoshop. Loadscreen ở phiên bản Photoshop 1.0.7, chỉ có 4 cái tên xuất hiện, đó là: Thomas Knoll, John Knoll, Steve Guttman và Russell Brown.

russell-preston-brown

Là giám đốc sáng tạo lâu năm của Adobe, Russell Brown là người dùng tận tụy của Photoshop, và ông ấy còn truyền bá phần mềm với kĩ năng Photoshop và thiết kế siêu phàm. Ông không ngừng nghỉ quảng bá tiềm năng của Photoshop trong những sự kiện trọng đại như Mac Summit, và chia sẻ bí quyết riêng cũng như hướng dẫn trên website. Nếu bạn đã từng xem qua, bạn hẳn sẽ cảm thấy nể phục niềm đam mê (và một chút điên cuồng) dành cho Photoshop của ông.

4. Seetharaman Narayanan

Mặc dù đã có thể nghỉ hươu và tận hưởng cuộc sống trên một hòn đảo nhiệt đới nào đó nhưng Seetharanan Narayanan vẫn đã chọn được tiếp tục làm việc tiếp tại Adobe. Tên ông ấy xuất hiện ngay sau vị trí số 1 của Thomas Knoll trong bảng loadscreen, nên tôi chắc chắn là bạn đã thấy tên ông ấy nhiều rồi, nhất là khi Photoshop khởi động chậm.

seetharanan-narayanan

Và ông ấy thực sự xứng đáng với điều đó, Seetharanan Narayanan là người đàn ông đã cống hiến tất cả để thực thi hóa Photoshop phiên bản dành cho Windows. Là kĩ sư trưởng của Adobe Photoshop, ông ấy cũng đã đưa Adobe Lightroom vào Windows. Và ông cũng như Thomas, luôn khiêm tốn, không giành hết vinh quang cho mình và luôn đề cao tinh thần làm việc của cả nhóm.

5. Russell Williams

Russell Williams gia nhập đội ngũ Photoshop ngay sau phiên bản 4.0, và ông ấy đã vô cùng bất ngờ bởi số lượng ít ỏi về nhân lực đằng sau thương hiệu Photoshop này. Nhưng ông đã sớm nhận ra rằng họ rất xuất sắc và cực kỳ giỏi về chuyên môn. Với định hướng rõ ràng của cả nhóm, Russell tin rằng sản phẩm này sẽ còn tiếp tục thành công hơn nữa, và điều đó cũng là điều mà mọi thành viên mong muốn.

russell-williams

Trong cuộc sống thường nhật của Russell, ông ấy thường ngồi cùng những nhà khoa học quan trọng như Seetharanan Narayanan và làm công việc khá là quan trọng: chọn ra hướng đi tiếp theo cho Photoshop. Một trong những mục tiêu mà lúc này Russell Williams đang hướng đến chính khả năng nhận dạng tội phạm cải trang chỉ qua một bức ảnh, một mục tiêu không phải dễ dàng.

6. Jeff Chien

Nếu bạn là người hay sử dụng chức năng Healing Brush để xóa nếp nhăn, mụn và cả nhược điểm cho bức hình của bản thân thì bạn cần phải cảm ơn Jeff Chien đấy. Ông chính là người đã tạo ra và phát triển chức năng Healing Brush để giúp chúng ta có thể “lừa tình” thiên hạ. Chức năng này khá là phức tạp nều xét về mặt kỹ thuật về màu sắc. Tuy nhiên, lúc đó ông ấy chẳng hề biết gì về hệ màu RGB cả.Mục đích của Jeff Chien hiện tại là thúc đẩy những nhà kĩ sư vi tính trong việc phát triển đất nước.

jeff-chien
Ông ấy lớn lên trong một đất nước không có máy GameBoys và những thiết bị giải trí gia dụng xa xỉ khác và ông chỉ được tiếp xúc với hệ thống máy tính mà mọi người chuyền tay cho nhau trong một thời gian ngắn. Mặc cho môi trường giới hạn vô cùng, ông vẫn đã học hỏi được rất nhiều cùng với khả năng thiên phú về toán học đã giúp ông có được việc làm ở cả Apple và Adobe.

7. Maria Yap

Maria Yap được đào tạo chuyên nghiệp, cô đã bắt đầu sự nghiệp nhiếp ảnh và thiết kế trước khi Photoshop ra đời, do đó cô rất quý trọng những gì mà Photoshop đã làm để giúp cho công việc của những người như cô. Sau vài năm làm việc trong ngành công nghiệp đào tạo khắc nghiệt (dưới hình thức freelance), Maria cuối cùng cũng gia nhập đội ngũ Adobe cùng với khả năng chuyên môn của mình.

maria-yap
Hiện cô đang là đội trưởng của đội quản lý và quảng bá sảng phẩm để cái tiến ứng dụng cho thiết kế, nhưAdobe Revel. Maria cũng đã tình nguyện làm ban giám khảo cho giải thưởng Adobe Youth Voice và có thể đó là lí do khiến nguồn cảm hứng của cả cuộc thi lan rộng tới vậy.

8. Sarah Kong

Với những nhà thiết kế đã có tuổi thì chắc sẽ biết đến ImageReady – một phần mềm sử dụng song song với Photoshop trong thiết kế web. Tuy ImagaReady không còn được phát triển và sử dụng cho ngày nay nữa nhưng chúng ta cũng không thể quên được công lao của Sarah Kong được bởi chính cô là người đã tạo ra cầu nối giữa ImageReady và Photoshop – chức năng Jump to ImageReady.

sarah-kong

Với Sarah, Photoshop là một sản phẩm hết sức tuyệt vời được thực hiện bởi đội ngũ xuất sắc. Cô ấy cũng có thể thấy được một tương lai vững mạnh cho Photoshop trong thời đại phương tiện truyền thông.

9. Bryan O’Neil Hughes

Con người ai cũng cần có can đảm và quyết tâm để thành công trong cuộc sống, và Bryan O’Neil Hughes là bằng chứng sống của câu nói ấy khi ông việc gia nhập đội ngũ Photoshop năm 1999. Với vị trí ban đầu là Kỹ Sư Chất Lượng, thành quả của Bryan được đo bằng sự “bầm dập” của Photoshop trong khâu kiểm tra sản phẩm. Ngoài ra, nếu bạn đã cảm được độ ngọt của chức năng Liquify, đó cũng là thành quả của Bryan nữa đấy.

bryan-oneil-hughes

Bryan rất quan tâm đến người dùng. Trong buổi lễ kỉ niệm 20 năm của Photoshop, ông ấy đã đi khảo sát tình hình của người dùng Photoshop và cả thành viên của NAPP để tìm thêm ý tưởng mới cũng như hướng giải quyết những vấn đề mà người dùng hiện đang đối mặt. Từ đó, cả nhóm đã cải thiện và phát triển Photoshop CS5 và thống trị hoàn toàn thế giới ảnh kĩ thuật số một lần nữa.

10. John Nack

John Nack (a.k.a Tiny Elvis), một hoa tiêu “chuẩn” của Photoshop. Công việc của John là quản lý sản phẩm cấp cao của Adobe cũng như phải đảm bảo rằng anh luôn có cái nhìn toàn diện cho sự phát triển của Adobe Brigde, Adobe Camera Raw, Vanishing Point và Smart Object mà chúng ta vẫn hay dùng mỗi ngày.

john-nack

John được bổ nhiệm vào NAPP vào năm 2008, một danh hiệu cao quý trong ngành. Tuy nhiên, anh ấy lại vô cùng khiêm tốn cùng với thành quả đạt được, Adobe Blog là bằng chứng rõ nhất cho sự điều đó. Rõ ràng sự khiêm tốn chính đức tính cần phải có của tập thể đội ngũ Photoshop.

Lời kết

Trong lúc tìm kiếm thông tin, “sự khiêm tốn” và “teamwork” là từ mà tôi được thấy nhiều nhất. Đa phần trong cuộc nói chuyện, họ đều đẩy thành quả cho các thành viên khác trong trong nhóm! Tôi tin đấy là bí quyết đã giúp Photoshop phát triển suốt hơn 20 năm qua và có thể còn xa hơn nữa trong tương lai.
Nếu bạn đang đọc, có thể bạn cũng là người đam mê và yêu thích Photoshop như tôi! Bạn sẽ nói gì với những con người vĩ đại trên? Tôi thì… một lời cảm ơn đơn giản là không thể nào đủ!

Hãy cho tôi biết bạn nghĩ gì và Photoshop đã biến hóa cuộc sống của bạn như thế nào?

vietnamstart.com siêu tầm hongkiat.com

dh612bao-bi-vuinhon-041

Bật mí 10 xu hướng thiết kế bao bì

Phá vỡ những quy tắc và tư duy khác đi chính là điểm bắt đầu cho những xu hướng của tương lai.

Những người làm thiết kế phải tự thôi thúc bản thân và “lôi kéo” khách hàng từ bỏ những giải pháp đã nhàm chán trong quá khứ để chấp nhận những ý tưởng sáng tạo có khả năng gây ảnh hưởng lớn. Trong một thế giới mà hiểu biết về thiết kế và óc thẩm mỹ của người tiêu dùng ngày càng được nâng cao, nhiệm vụ của các chuyên gia là phải nắm được những xu hướng hiện nay để tìm ra phương án hấp dẫn khách hàng nhất. 10 xu hướng được tổng hợp dưới đây có thể là cơ sở để các nhà thiết kế phát triển các ý tưởng mới, thậm chí là tạo dựng những khởi đầu trào lưu mới…

1. Giãi bày, kể chuyệnNhững thông tin về nguồn gốc của sản phẩm sẽ làm tăng sự tin cậy của khách hàng – chưa kể thực tế nội dung câu chuyện có thể ăn sâu vào trí nhớ của khách hàng. Đây là công cụ rất mạnh xét về khả năng tạo lập quan hệ giữa thương hiệu và sản phẩm.

Từ chỗ chỉ có một vài mẩu nhỏ được in phía sau bao bì, xu hướng kể chuyện giờ đã phát triển thành những câu chuyện được in trực tiếp mặt trước bao bì: câu chuyện giờ đã trở thành một phần của thiết kế, tạo ra sự hấp dẫn và giải trí, mang lại cảm giác thư giãn cho khách hàng và khiến họ quan tâm tới bao bì. Một khi sự kết nối được tạo dựng, sức hút của sản phẩm sẽ tăng lên mạnh mẽ.

2. Vui nhộn

Bao bì cổ điển chỉ “chung thủy” với chức năng thông tin chi tiết và lợi ích của sản phẩm, nhất là những loại bao bì có nội dung rõ ràng, súc tích và đơn giản. Khi một thương hiệu có cá tính, nó sẽ trở nên hấp dẫn, quyến rũ và mang lại sự hài hước cho khách hàng.

Tư duy xa hơn, hãy coi thương hiệu là nguồn tạo ra sự vui nhộn. Những dấu hiệu hài hước kỳ lạ (đôi khi là kỳ cục) sẽ tạo tính giải trí cho bao bì và khiến cho người tiêu dùng có căn cứ tin vào sản phẩm. Sự vui nhộn có thể làm nóng cả những bộ óc hoài nghi nhất. Sống ở trên đời, ai mà không mua sắm – vậy sao không tạo cho khách hàng những cảm giác vui nhộn bất ngờ?

3. In đậm

In đậm có nguồn gốc từ Pop Art, có pha trộn cảm xúc của những cuốn truyện tranh. Kiểu dáng in đậm của bao bì khiến nó trở nên độc đáo, khác biệt với mọi sản phẩm khác trên giá hàng. Bao bì thường có màu sáng, đôi khi được tô điểm bằng những đường đen bao lấy hình vẽ.

Có thể xem đây là một xu hướng tiến tới sự đơn giản, vì mơ ước của mọi chuyên gia thiết kế là được tạo ra những hình ảnh rõ ràng và ít rối rắm. Xu hướng in đậm đang phát triển và có sự ảnh hưởng mạnh mẽ, đặc biệt với những loại sản phẩm cần vẻ ngoài mạnh mẽ. Xu hướng này cũng được sử dụng với những loại sản phẩm đang bị cạnh tranh gay gắt, nhằm khẳng định sự khác biệt với các đối thủ trên thị trường.

4. Hình ảnh thay lời muốn nói

Thông thường, người thiết kế hay chú trọng việc cung cấp mọi thông tin liên quan sản phẩm tới khách hàng thông qua bao bì mà quên mất rằng ngườ i tiêu dùng có thể bị nhiễu loạn bởi lượng thông tin dày đặc. “Hình ảnh thay lời muốn nói” là xu hướng tập trung cho sản phẩm thay vì thương hiệu, chú trọng việc tô đậm hình ảnh sản phẩm nhằm thuyết phục người tiêu dùng mua hàng.

Để làm được điều này, người thiết kế thường sử dụng những bức ảnh mô tả đặc tính hay cảm xúc liên quan sản phẩm, hoặc tập trung vào những ích lợi mà khách hàng sẽ thu về khi tiêu dùng sản phẩm. Đây cũng là xu hướng được phát triển từ ý tưởng đơn giản hóa và đang được nhiều thương hiệu mạnh sử dụng.

5. Thủ công

Càng muốn đơn giản hóa cuộc sống của chính mình, chúng ta càng muốn tìm kiếm vui thú và đam mê mỗi ngày. Các sản phẩm thủ công luôn được xem là đặc biệt và người tiêu dùng sẵn sàng trả nhiều tiền hơn để mua chúng.

Nhưng trước khi quyết định mua hàng, người tiêu dùng cần có cảm giác tin tưởng vào chất lượng sản phẩm. Kiểu thiết kế thủ công, sử dụng những họa tiết “vẽ tay” sẽ tạo hiệu ứng thân thiện, khiến người tiêu dùng bằng các giác quan có thể cảm nhận sản phẩm một cách trực tiếp. Nhìn những đồ họa (hình ảnh, chữ viết) được kết hợp khéo léo trên bao bì, khách hàng sẽ có cảm giác sản phẩm được làm riêng cho mình. Có thể xem thiết kế thủ công là một bước tiến từ mô hình sản xuất hàng loạt tới tiếp xúc nhân văn.

6. Phong cách sống

Có thể nói xu hướng này đã từng bị lạm dụng trong quảng cáo nhiều năm qua, nhưng với thiết kế bao bì, vai trò của nó khá hạn chế. Xu hướng “phong cách sống” chú trọng những lợi ích của sản phẩm và thương hiệu. Chuyên gia thiết kế tìm cách mô tả sản phẩm khi đang được sử dụng, thông qua những bức ảnh minh họa. Xu hướng này thể hiện rất rõ ở châu Âu, trên bao bì thường có hình ảnh người tiêu dùng tỏ ra thích thú trải nghiệm sản phẩm.

 

Có nhiều cách để tạo ra hiệu ứng này, thông qua hình ảnh người tiêu dùng đang sử dụng sản phẩm, hay vẻ mãn nguyện của họ sau khi dùng xong. Thông điệp hướng tới là khách hàng sẽ có cảm giác như đang tiến gần tới một phong cách sống nào đó.

 

7. Phỏng theo quá khứ

Xu hướng này đánh vào tình cảm của khách hàng, tạo cảm xúc về quá khứ, hay làm sống lại trong họ những kinh nghiệm tích cực trước đây về sản phẩm. Đây là lý do tại sao những sản phẩm như Izze lại sử dụng những biểu tượng của những năm 60 trên bao bì. Rõ ràng, việc khơi dậy tình cảm hoài cổ không phải là ý tưởng mới, nhưng quá khứ mà chúng ta mô phỏng phải thường xuyên được cải biến, thay đổi.

Xu hướng này không phải là sự bắt chước hoàn hảo, nói cách khác là sự mô phỏng 100% thiết kế năm xưa; thay vào đó, những chuyên gia thiết kế tài năng sẽ chỉ giữ lại một số yếu tố đặc thù và bổ sung những nét mới, tạo ra những “xúc cảm đương thời” trong người tiêu dùng của ngày hôm nay.

8. Càng ít càng tốt

Nhiều năm qua, xu hướng “càng ít càng tốt” dường như đã trở thành chủ đề tranh luận trong cộng đồng thiết kế. Sự đơn giản thường được xem là mơ ước của các chuyên gia thiết kế và cả những người tiêu dùng – nó khiến nhiều thứ trở nên dễ dàng và có tính thuyết phục hơn. Cách tiếp cận này thường được dùng để gợi ra một sự tao nhã thầm lặng hay để tập trung truyền tải ý tưởng chỉ đạo. Trong năm 2008, ngoài xu hướng này, chúng ta có thể thấy những biến tấu khác của sự đơn giản hóa như “hình ảnh thay lời muốn nói” hay “vui nhộn, bất ngờ” đã trình bày trên đây.

9. Tự do biểu đạt

Xu hướng này nhấn mạnh sự biểu đạt nghệ thuật một cách tự do trong thiết kế bao bì, dùng sáng tạo thẩm mỹ để gây bất ngờ và tạo sự ưa thích cho các nhóm khách hàng trẻ tuổi. Có thể quan sát nhưng thật khó mô tả xu hướng này bởi tính chất đa dạng của những giải pháp, tuy nhiên điểm chung nhất chính là cách tiếp cận hoàn toàn mới, thậm chí ngược hẳn với kiểu bao bì sản phẩm truyền thống, lấy sáng tạo làm động lực và “phó thác” cho ý tưởng nghệ thuật lan tỏa, tuy nhiên phải tôn trọng nguyên tắc không tác động tiêu cực tới các lợi ích của sản phẩm và thương hiệu.

10. Xanh lá

 

Xu hướng này lan truyền khá nhanh và đang thu hút sự quan tâm với hầu hết các thương hiệu, vì nó ảnh hưởng tới mọi mặt của bao bì – từ thu thập nguyên liệu đầu vào cho tới tái chế để tái sử dụng. Gắn kết với xu hướng xanh là sự nổi lên của phong trào “tư duy toàn cầu, mua hàng địa phương”; cả hai đều hướng tới việc giảm thiểu nguyên liệu đầu vào trong sản xuất và đóng gói, đưa các sản phẩm địa phương ra thị trường.

Trong cuốn sách “Sinh thái học Thương mại”, tác giả Paul Hawken cho rằng nếu doanh nghiệp quan tâm tới hoạt động tái chế và xử lý chất thải doanh nghiệp sẽ rất dễ ghi điểm trong thị trường. 10 năm sau, ý tưởng của Hawken đã được thừa nhận rộng rãi. Xu hướng xanh đang từng bước in dấu trên trái đất và với nhiều người tiêu dùng, nó đã trở thành một lối sống.

Theo TC marketing
Thiet-ke-logo-color

Nghiên cứu các logo đã thành danh trên thế giới

Thường thì khi thiết kế một logo thương hiệu cho khách hàng, người thiết kế luôn gặp khó khăn khi quyết định chọn tính sáng tạo hay tính thực dụng.

Nhà thiết kế nào cũng muốn để lại dấu ấn sáng tạo của riêng mình mà đôi khi quên đi những yếu tố rất quan trọng để tạo thành một logo tầm cỡ.

Việc thiết kế logo thương hiệu không phải là chuyện dễ dàng.
Một logo phải:
 
- Truyền tải được đặc điểm, phong cách, cá tính…
- Chắc chắn và mạnh mẽ để tạo niềm tin ngay cái nhìn đầu tiên.

- Dễ nhớ, dễ liên tưởng, dễ phát âm, dễ viết đúng chính tả…

- Ngoài ra logo phải được tái tạo lại (in ấn, copy, fax) sao cho chính xác nhất.

Tại sao ta không nghiên cứu các logo đã thành danh trên thế giới. Biết đâu ta có thể học hỏi được gì chăng?

Các phân tích sau dựa trên con số tỷ lệ phần trăm thể hiện trong 50 logo này.

Logo design

 - Tên không mô tả các sản phẩm bán ra (94%) (ví dụ trong nhiều trường hợp một logo được sử dụng để xác định một công ty, chứ không phải mô tả những gì mà công ty bán).

-  Slogan không đi kèm theo các biểu tượng (90%)

- Phông chữ gọn gàng và đơn giản (84%)

- Việc thiết kế logo sử dụng một màu duy nhất (74%) (trắng và đen không được tính là một màu sắc)

- Việc thiết kế logo chỉ sử dụng biểu tự mà không có biểu tượng (74%)

-  Thiết kế logo là một tên làm từ chữ viết tắt (72%)

- Logo có hình chữ nhật (66%)

- Logo được thiết kế chỉ từ 1 chữ (62%)

- Việc thiết kế logo bao gồm các biểu tượng thương hiệu (54%) và được đặt trong góc trên bên phải (48%)

-  Tên thương hiệu từ 6 ký tự trở xuống (52%)

- Tên thương hiệu được thiết kế từ cả chữ in hoa và chữ thường (44%) (không bao gồm những từ viết tắt)

- Tên thương hiệu nằm trên nền màu (52%)

- Tên thương hiệu gồm 3 âm tiết (44%)

- Màu xanh là màu chủ đạo (40%)

Top 50 thương hiệu:

Coca-Cola, Microsoft, IBM, GE, Intel, Nokia, Walt Disney, McDonald’s, Toyota, Marlboro, Mercedes-Benz, Citi, Hewlett-Packard, American Express, Gillette, BMW, Cisco, Louis Vuitton, Honda, Samsung, Dell, Ford, Pepsi, Nescafé, Merrill Lynch, Budweiser, Oracle, Sony, HSBC, Nike, Pfizer, UPS, Morgan Stanley, JPMorgan, Canon, SAP, Goldman Sachs, Google, Kellogg’s, Gap, Apple, Ikea, Novartis, UBS, Siemens, Harley-Davidson, Heinz, MTV, Gucci and Nintendo.

 

 

Nguồn Logo Designer Blog

12_FibonacciChamomile

Áp dụng tỉ lệ vàng, dãy Fibonacci trong thiết kế logo

Logo quả táo khuyết của Apple thì ai cũng biết và rất nổi tiếng nhưng ít ai biết cách mà các nhà thiết kế đã tạo ra nó, hay nói cách khác là nó được vẽ ngẫu nhiên hay theo một tỉ lệ nào? Thật tuyệt vời khi người ta khám phá ra rằng logo quả táo được thiết kế theo tỉ lệ vàng được giới hội hoạ và kiến trúc áp dụng trên những tác phẩm kinh điển. Cụ thể, Rob Janoff đã tạo nên logo Apple dựa trên hình chữ nhật vàng và dãy số Fibonacci huyền ảo. Không chỉ có logo quả táo, logo iCloud mới đây, logo Mac OS Lion, iPhone 4 cũng chịu ảnh hưởng từ tỉ lệ vàng (Golden Ratio).

 

Tỉ lệ vàng trong toán học là một phát minh rất quan trọng và đã có từ lâu đời. Theo Wikipedia, “hai đại lượng được gọi là có tỷ số vàng hay tỷ lệ vàng nếu tỷ số giữa tổng của các đại lượng đó với đại lượng lớn hơn bằng tỷ số giữa đại lượng lớn hơn với đại lượng nhỏ hơn”.

 

 

Tỉ lệ vàng được ký hiệu bằng ký tự “phi” (φ) và 1 phi bằng 1,618033…, đó là một số vô tỷ. Tỉ lệ vàng được phát minh ra từ khi nào thì không ai biết chính xác, chỉ biết rằng nó đã tồn tại từ cách đây hàng ngàn năm và ứng dụng của nó cũng không hề nhỏ. Các kiến trúc kinh điển như đền thờ Parthenon, Hy Lạp; kim thự tháp Keop (Cheops) hay khuôn mặt nàng Mona Lisa cũng được vẽ theo tỉ lệ vàng… Tỉ lệ vàng trong những tác phẩm kể trên được diễn tả theo một hình chữ nhật vàng, hình có cạnh dài và cạnh ngắn là một tỷ số vàng. Không chỉ có các kiến trúc, hội hoạ áp dụng tỉ lệ vàng mà cơ thể con người, các bông hoa, sự sắp xếp cánh hoa, nhị hoa cũng có sự tồn tại của tỉ lệ vàng (tham khảo thêm tại đây).

 

 

Bên cạnh đó, tỉ lệ vàng cũng có sự liên hệ với dãy số nguyên Fibonacci. Đây là một dãy số tự nhiên và vô hạn, bắt đầu từ số 0 với quy tắc số sau luôn bằng hai số trước cộng lại. Những số đầu trong dãy Fibonacci gồm: 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34… Lấy ví dụ số 8 bằng số 3 và 5 cộng lại hay số 34 bằng hai số 13 và 21 cộng lại…Như vậy chúng ta đã hiểu tỉ lệ vàng quan trọng và độc đáo tới mức nào, đặc biệt là trong thiết kế. Apple là một trong số những hãng sản xuất ứng dụng tỉ lệ vàng vào thiết kế các sản phẩm của mình nhất. Người ta tìm thấy sự hiện diện của tỉ lệ vàng trong logo Apple, logo iCloud, thiết kế iPod, thiết kế iPhone và máy Mac… Đầu tiên hãy khám phá logo Apple, logo iCloud và sau đó là thiết kế iPhone 4/4S theo tỉ lệ vàng, hình chữ nhật vàng và dãy số nguyên Fibonacci.

 

1. Logo Apple

 

 

Ban đầu logo Apple là một hình chữ nhật được thiết kế với hình ảnh Newton ngồi dưới gốc cây táo nhưng sau đó Apple quyết định đổi logo nhận diện thương hiệu thành hình ảnh quả táo khuyết một miếng ở bên phải. Logo này được sử dụng từ những năm 1976 và hình dáng của nó không thay đổi từ khi đó tới bây giờ, dù màu sắc có khác.Logo quả táo không phải được vẽ một cách ngẫu nhiên trên máy tính mà nó tuân theo hình chữ nhật vàng và dãy số nguyên Fibonacci. Hình chữ nhật được sử dụng để tạo nên kích thước và kiểu dáng của quả táo khuyến Apple có các hình vuông nhỏ bên trong được phân chia theo dãy số Fibonacci (hình dưới). Hình dáng của quả táo, các đường cong ở hai đầu của quả táo, “vết cắn” bên phải, lá của quả táo đều được tạo hình từ hình chữ nhật vàng với kích thước tuân thủ dãy Fibonacci.

 

Với các hình tròn trong thiết kế logo Apple, giả sử chúng có đường kính là các số trong dãy Fibonacci (hình trên) thì chiếc lá táo được tạo thành từ hai hình tròn với đường kính là 8. Vết cắn trên thân táo cũng tạo nên bởi một phần của hình tròn đường kính 8. Đường cong phía dưới đáy được tạo thành từ hai hình tròn 5, một hình tròn 8 và một hình tròn với đường kính là 1. Sự cân đối trong logo Apple có được cũng là do tỉ lệ vàng này.

 

 

2. Logo iCloud

 

iCloud là một dịch vụ đám mây mới được Apple giới thiệu và logo của dịch vụ này mô tả một đám mây bồng bềnh trôi. Hình dáng của đám mây đó nằm trong một hình chữ nhật vàng và các gợn mây được tạo nên bởi những hình tròn theo tỉ lệ 1,6 (tỉ lệ vàng). Nếu hình chữ nhật để tạo nên logo iCloud có tỉ lệ hai cạnh là 1:1,6 thì bốn hình tròn bên trong cũng theo tỉ lệ 1:1,6 này.

 

 

Không chỉ Apple mà logo của những thương hiệu nổi tiếng khác cũng được cho là sử dụng tỉ lệ vàng để thiết kế. Người ta còn nhìn thấy tỉ lệ vàng với các đường xoắn ốc trong biểu tượng của HĐH Mac OS X Lion (hình đầu con sử tử). Hãy quan sát và suy nghĩ với hình minh hoạ phía dưới.

 

 

3. Thiết kế iPhone 4/4S

 

 

 

 

Không chỉ có logo mà Apple còn được cho cũng sử dụng tỉ lệ vàng vào thiết kế phần cứng, hãy lấy ví dụ với iPhone 4. Hình dáng của iPhone 4 là một hình chữ nhật vàng với các chi tiết bên trong tuân theo quy luật này. Tỉ lệ vàng còn được tìm thấy ở việc sắp xếp vị trí jack tai nghe, ăng-ten sóng gần đó, micro phụ và cụm camera/đèn flash phía sau máy.

 

Nguồn: Wikipedia

 

4. Thiết kế logo VietnamStart

 

 

Nhận biết được tầm quan trọng của tỉ lệ vàng trong thiết kế logo, ngay từ  đầu Vietnamstart đã áp dụng các số Fibonacci vào thiết kế logo của mình. Thực tế như hình vẽ minh họa ở trên thì logo VietnamStat được áp dụng bởi các hình tròn có dãy số 1, 1, 2, 3, 5,8, 13 . Từ những mảnh ghép và đường cắt đã tạo ra logo với biểu tượng chính là chữ “S” mang lại thị giác hài hòa, cân đối & ấn tượng.